VITAMIN K VỚI SỨC KHỎE

 

Hotline:

0368 723 888

 

Giao hàng

toàn quốc

 

Tư vấn

VITAMIN K VỚI SỨC KHỎE

 Vitamin K là gì?

Vitamin K là tên được đặt cho một nhóm các vitamin tan trong chất béo được coi là các cofactors thiết yếu trong con người để sản xuất các protein khác nhau liên quan đến cân bằng nội môi đông máu và cân bằng nội môi canxi. Các vitamin này bao gồm: vitamin K1, K2 (MK-4), K2 (MK-7) và K3. Từ nguyên gốc "K" xuất phát từ chữ "K" trong từ "Koagulation" có nghĩa là khả năng đông máu và ngăn ngừa xuất huyết. Chức năng đặc biệt này được kết hợp với vitamin K1.

 

Vitamin K1 chuyển đổi dư lượng glutamate protein liên kết thành carboxyl glutamate (GLa) bằng cách sử dụng như một đồng yếu tố cho carboxyl hóa (Schwalfenberg, 2017). Carboxyl glutamate (GLa) có chứa các protein được tìm thấy trong các yếu tố đông máu II, VII, IX và X có vai trò quan trọng đối với cục máu đông.

 

Vitamin K2 (MK-4) và K2 (MK-7) tham gia vào quá trình vận chuyển canxi bằng cách ngăn chặn sự lắng đọng canxi trong thành mạch máu, và có vai trò quan trọng trong việc cải thiện mật độ xương. Sự khác biệt giữa hai dạng này là K2 (MK-4) là dạng chuỗi ngắn với chu kỳ bán rã ngắn hơn và K2 (MK-7) là dạng chuỗi dài có chu kỳ bán rã dài hơn. Vitamin K3 là một chất tương tự tổng hợp vitamin K và hiện đang được nghiên cứu như một liệu pháp ung thư tuyến tiền liệt / tế bào gan tiềm năng và điều trị độc tính với da, điều trị ức chế kinase thứ cấp (Schwalfenberg, 2017).

 

Nguồn thực phẩm của vitamin K1 là rau bina luộc, bông cải xanh nấu chín và măng tây, nho đỏ và xanh, mận, đậu tây, sốt mayonnaise và bơ thực vật. Vitamin K2, mặt khác có thể được tìm thấy trong pho mát cứng và mềm, lòng đỏ trứng, bơ, thịt gà, thịt bò, sữa lên men và đậu nành. Nhu cầu khuyến cáo hàng ngày đối với vitamin K là 90 μg  mỗi ngày đối với phụ nữ và 120 μg hàng ngày đối với nam giới (Otten et al., 2008). Thiếu vitamin K1 là rất hiếm, ngoại trừ ở những người mới sinh, nếu có mặt sau này trong cuộc sống được xác định bằng cách đo mức độ của các protein GLA không chứa carboxyl hóa. Một chỉ số thiếu hụt vitamin K2 là mức độ osteocalcin chưa được khử trùng mà cũng được coi là dấu hiệu cho nguy cơ gãy xương hông (Szulc et al., 1996).

 

Nghiên cứu khoa học trong vài năm qua đã chỉ ra tầm quan trọng của vitamin K trong loãng xương, vôi hóa mạch máu, viêm xương khớp, tiểu đường và nhận thức.

 

Vitamin K2 và loãng xương

 

Vitamin K rất cần thiết cho sức khỏe của xương tốt nhờ khả năng cải thiện mật độ xương. Vitamin K2 (MK-7) từ đậu nành lên men kích thích tế bào xương (tế bào tạo xương) và ức chế các tế bào osteoclasts (tế bào phá vỡ mô xương), dẫn đến tác dụng anabolic lên quá trình vôi hóa xương (Yamaguchi, 2006). Trong các nghiên cứu lâm sàng, vitamin K2 đã được chứng minh có hiệu quả trong việc duy trì mật độ khoáng xương xương sống (BMD). Iwamoto và cộng sự. (2004) đã chứng minh khả năng của vitamin K2 để giảm gãy xương do loãng xương liên quan đến tuổi tác, giảm gãy xương xương sống do loãng xương do glucocorticoid gây ra và duy trì mật độ khoáng xương ở bệnh nhân loãng xương.

 

Vitamin K2 và bệnh tim mạch

 

Vitamin K2 đóng một vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và đảo ngược xơ cứng động mạch. Canxi dư thừa trong cơ thể có thể lắng đọng trong động mạch và mạch máu dưới dạng các mảng canxi. Đây là một yếu tố nguy cơ lớn cho sự phát triển của bệnh tim mạch. Vitamin K2 kích hoạt các enzym osteocalcin kết hợp canxi vào xương. Vitamin K2 (MK-7) có thêm lợi ích của việc kích hoạt một enzyme thứ hai đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống tuần hoàn. Vitamin K2 rất cần thiết cho việc kích hoạt protein Gla ma trận (MGP), một protein liên kết canxi. Sau khi được kích hoạt, MGP liên kết với canxi dư thừa, tự do trong máu và ngăn chặn nó được lắng đọng trong hệ thống tuần hoàn (Cranenburg và cộng sự,2010). Mức độ cao của MGP không kích hoạt trong máu tương quan với tình trạng vitamin K thấp và vôi hóa mạch máu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bổ sung K2 làm giảm đáng kể MGP không kích hoạt ở người lớn khỏe mạnh (Cranenburg và cộng sự, 2010; Theuwissen và cộng sự, 2012).

 

Vitamin K2 và bệnh tiểu đường

 

Bổ sung vitamin K có tiềm năng như một liệu pháp bổ trợ mới để cải thiện kiểm soát đường huyết và chất lượng cuộc sống. Thiếu vitamin K có thể dẫn đến tiết insulin quá mức và làm giảm lượng đường trong máu ra khỏi máu. Một thử nghiệm đối chứng giả dược gần đây cho thấy bổ sung vitamin K2 có thể làm tăng sự nhạy cảm insulin ở nam thanh niên khỏe mạnh thông qua chuyển hóa osteocalcin (Choi và cộng sự, 2011). Một nghiên cứu khác được thực hiện bởi Li et al. (2017) đề xuất thêm chức năng chống bệnh tiểu đường của vitamin K2 bằng cách chứng minh tác dụng chống viêm và giảm lipit của nó, bao gồm khả năng ức chế viêm bằng cách làm bất hoạt đường tín hiệu NF-κB.

 

Vitamin K1 và sự nhận thức

 

Vitamin K có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp sphingolipid trong não. Gần đây, các protein phụ thuộc vitamin K như Protein Gas6 đã được chứng minh là đóng một vai trò quan trọng trong hệ thần kinh trung ương và ngoại biên (Ferland, 2012). Nồng độ vitamin K1 ở những người mắc bệnh Alzheimer thấp đáng kể. Nghiên cứu gần đây chỉ ra hiệu quả có lợi của vitamin K trong việc cải thiện chức năng nhận thức. Một nghiên cứu như vậy đã chỉ ra rằng vitamin K1 có liên quan đến các buổi biểu diễn bộ nhớ bằng lời nói tốt hơn, đặc biệt là nhiệm vụ thu hồi, ở những người lớn tuổi khỏe mạnh (Presse và cộng sự, 2013).

 

Được viết bởi

Vesna Manasieva

BSc Thuốc thay thế; Thạc sĩ Dược

© 2018 Copyright ANH DUONG XANH - Designed by Vietwave
Follow us :